Hiển thị các bài đăng có nhãn tạpvăn..........củangườita. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tạpvăn..........củangườita. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2008

Entry for August 14, 2008




Copy cái này bên blog Võ Đắc Danh (một người mà tui cũng khoái lắm lắm)

HẠT BỤI NGHIÊNG MÌNH NHỚ ĐẤT QUÊ


Tiễn đưa về cửa biển

Những giọt nước lìa nguồn

Đôi tâm hồn cô tịch

Nghe lắng sầu cô thôn

Dưới trời mây heo hút

Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút

Điệu hò . . . ơ theo nước chảy chan hòa

Năm tháng đã trôi qua

Ray rứt mãi đời ta

Nắng mưa miền cố thổ

Phong sương mấy độ qua đường phố

Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê

Đó là đoạn cuối trong một bài thơ của nhà văn Sơn Nam – bài thơ không tên, được viết làm lời tựa cho tập truyện Hương Rừng Cà Mau xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1961.

Biết thế nào rồi cũng có cuộc chia ly, hôm ấy, cách nay hơn ba năm, khi ông còn tá túc ở thư viện Gò Vấp, tôi mua một tờ giấy cứng với cây bút lông mang lên, nói :“Tía chép giùm con bài thơ để con giữ bút tích của Tía làm kỷ niệm”. Ông nói: “Ừ, để đó đi, vài hôm nữa đã, tôi có chết sớm đâu mà lo, giờ có rảnh hôn, chở tôi đi vòng vòng Sài Gòn chơi”. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi chở ông đi dạo, và rồi, cái bài thơ ông cũng không kịp chép cho tôi. Hôm ấy, được tin ông bị tai nạn giao thông, tôi chạy sang thì ông đã nằm liệt giường, thậm chí không còn nhận ra tôi là ai nữa. Bây giờ thì ông đã ra đi !

Nhớ hôm ấy, ngồi sau lưng tôi, ông kể chuyện huyên thuyên, rồi bất chợt khi ngồi vào một quán cà phê vỉa hè, ông nói: “Tôi còn mấy chuyện hay lắm, nhưng về già tôi mới viết”. Tôi giật mình nhìn ông và tự hỏi, về già là bao lâu nữa, hơn tám mươi rồi, ông lẩm cẩm rồi chăng ? Rồi ông lại nói: “Có gặp thằng Nguyễn Trọng Tín, nói tôi nhắn với nó, chuyển sang viết văn xuôi đi, thời buổi nầy mà làm thơ là húp nước mắm”. Tôi nói ông Tín bây giờ viết báo rồi, ông cười: “Vậy là càng tốt, viết báo dễ kiếm tiền hơn”. Trầm ngâm một chút, ông nói: “Nè, tôi dặn ông cái nầy nghen, ông viết báo thì cứ lo viết báo, đừng bày đặt góp ý với thằng chủ báo phải làm thế nầy thế nọ, trào máu có ngày ! Ngoài mặt nó giả bộ gật đầu nhưng trong bụng nó ghét cay ghét đắng”. Hỏi vì sao cả đời chỉ có một bài thơ, trong khi văn xuôi của ông thì không đếm hết. “Làm thơ đặng húp nước mắm à !” Ông nói những nhà thơ nổi danh thời ấy, phần lớn là con nhà khá giả, hoặc ít ra cũng có một công việc gì đó để nuôi thân. Còn ông, từ chiến khu về thành, được phân công ở lại sau tập kết, một phòng trọ, một bộ bà ba vải ú trắng, một đôi guốc vông, lang thang đi bộ khắp Sài Gòn. Ông nói trong sự nghiệp của ông có ảnh hưởng khá nhiều từ lời khuyên của Bình Nguyên Lộc. Những ngày đầu tiên ở Sài Gòn, ông lang thang đi tìm Bình Nguyên Lộc, hôm ấy gặp nhau trong một căn gác xép, hai người trao đổi với nhau xem nên viết cái gì để vừa kiếm tiền nuôi sống, vừa có lợi cho dân, vừa không lộ tông tích là “Việt cộng nằm vùng”. Bình Nguyên Lộc trầm ngâm khá lâu rồi nói: “Tôi thấy Sài Gòn bây giờ khá đông dân nhập cư từ miền tây, hay là ông viết những chuyện xứ ông, chắc sẽ có nhiều người đọc”. Quả nhiên, những câu chuyện của Sơn Nam về rừng U Minh đã thu hút đông đảo độc giả Sài Gòn, không chỉ dân miền tây mà cả những người đến từ mọi miền đất nước.

Ông nói : “Đến với văn chương để mong nổi danh thì đừng có hòng. Nền văn học của ta hơn nửa thế kỷ qua, nhìn lại ở một góc độ nào đó thì coi như lấy rổ múc nước”. Tôi cũng không hỏi vì sao, bởi biết tánh ông thỉnh thoảng hay “phán” ra một câu rồi bỏ ngõ, không giải thích, ai muốn hiểu sao thì tự hiểu. Với riêng ông, ông tự xem mình viết văn là một cái nghề, cái nghiệp để mưu sinh, “Vì vậy mà phải viết cho đàng hoàng, phải có lương tâm nghề nghiệp thì các báo, các nhà xuất bản họ mới mua của mình, độc giả họ mới đọc của mình”.

Dường như với Sơn Nam, mọi thứ đều rất thực tế và rất đơn giản. Trong câu chuyện “Âm Dương Cách Trở” của ông cách nay gần hai mươi năm, tôi vẫn bị ám ảnh một chi tiết: Ông già hớt tóc vỉa hè bị công an khu vực xét hộ khẩu, ông nói “Tôi sống ở đây gần trọn một đời người, chỉ biết mình là công dân của Tổ quốc Việt Nam thôi”. Anh công an hỏi: “Vậy theo ông thế nào là Tổ quốc ?”. Ông già nói: “Với tôi, Tổ quốc là một nơi kiếm sống được bằng một việc lương thiện nào đó, không bị ai làm khó dễ, có vài người bạn chơi được, không ba trợn”. Ông già hớt tóc sau đó qua đời, được một người bạn thầy tu cho hỏa táng và mang hủ hài cốt về quê ở U Minh.

Xem ra, cho đến bây giờ, khát vọng đơn giản của ông già kia vẫn đang là khát vọng của hàng triệu con người. Càng nghĩ càng thấy “đáng sợ” một Sơn Nam.

VÕ ĐẮC DANH

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2008

Entry for August 06, 2008




CHỢ NHÓM BÊN ĐƯỜNG
Bút ký
Nguyễn Ngọc Tư

Giống như đống lửa rơm nghi ngút khói bên đường, những cái chợ nhỏ làm ấm lòng kẻ giong ruổi trên những con đường đầy bụi và sương, nắng và gió.

Chờ đợi ngót hai mươi lăm năm sau chiến tranh, Cà Mau mới có đường về 5 huyện. Những con đường còn hoang vắng, thô sơ. Một mình một ngựa... nổ chạy rong chạy ruổi lóc cóc xuyên qua những cánh đồng gốc rạ tươi thơm, hai bên đường là bờ sậy, bờ chuối rậm rì. Làng quê yên ả. Những ngôi nhà im sẫm buổi sớm mai. Người lớn ra đồng, trẻ con ngồi học ê a bên cửa sổ, mấy con chó cò lông vàng lem luốc vừa ngửa cổ sủa rân trời vừa rối rít đuổi theo đằng sau xe, lòng tự dưng thấy lạc lõng, cô độc lạ lùng. Rồi chợ, chợ trước mặt, ôi ấm lòng làm sao những ngôi chợ nhóm bên vệ đường.

Chợ lúc nào cũng nhóm ngay đầu cầu, trước cơ quan xã hay đầu cống đá vào xóm kinh. Như người phụ nữ chân quê, chợ nhỏ nhoi, hiền hậu, trầm tính dịu dàng. Mấy rổ hàng con con, mười người phụ nữ tay lấm áo lem ngồi với nhau là thành chợ, đông nữa, hai ba mươi người cũng gọi chợ. Không cần lặn lội khuya lơ khuya lắc như đi chợ thị xã, cứ chờ cho sáng ra bắc nồi cơm lên bếp cái đã, rồi đủng đỉnh xách hàng ra chợ. Đã hiểu nhau về hết thảy nỗi nhọc nhằn nên người mua không nặng nề mặc cả bon chen, người bán cũng chẳng đanh đá chua ngoa như kẻ chợ, hình như chợ họp chỉ để trao đổi, san sẻ với nhau những gì mình có. Bán đi những trái dừa khô để mua lại mớ rau càng cua về trộn dầu giấm chấm mắm kho. Bán mấy trái khổ qua đắng để mua ít đỉnh cải bẹ xanh về nấu với mớ cá rô mề mới giăng tới được sáng naỵ. Cả cá, cả rau cả trái đều bán theo mớ, hiếm hoi lắm có dì có được cây cân đòn loại 12 kg, trái cân lò dò đặt lên cái đòn đã mòn những khía, tỏ con mắt cũng không biết số ký nằm đâu. Ôi, có hề gì chuyện nặng nhẹ đong đo, lòng người ta tin nhau đầy ắp kia mà. Buổi sáng sao mà dậy mùi thơm nồng hăng của rau húng lủi, húng cây, rau cần trục, cần rừng. Bày ra đó, không phải chăm chăm trông chừng hàng hoá, chị em chụm lại rôm rả với nhau chuyện chồng con, chuyện làng xóm, ruộng lúa, vườn cây... (chuyện xóm quê mà, nói biết chừng nào cho hết). Thành ra chợ không chỉ bán gà, bán cá, bán rau củ trong vườn nhà mà còn gửi gắm thông tin cho nhau nên chợ ít người mà vui, mà thắm đượm nghĩa tình cũng vì lẽ đó.

Chợ không chỉ độc đáo vì bản sắc bình dị, nó còn độc đáo ở những mặt hàng mà nó bày ra. Thì mớ tép rong ôm một bụng trứng xanh rờỉ còn ướt rượt nước mới cất vó từ dưới kinh lên đó, thì mớ cá lòng tong, lìm kìm, cá mè con con nhảy tung nhảy toé, nhảy đến tróc lớp vảy óng ánh ra, thì kìa, rổ trái giác trái tròn tròn, bóng mẩy như viên đạn cu ly, rồi những cọng năng trắng muốt thơm ngai ngái mùi bùn, mùi nước lên đồng... Những thứ này, ở thành phố có thèrn cũng chịu thua, có lang thang hết chợ này sang chợ khác tìm kiếm tảo tần chưa chắc có.

Trên những con đường mới mở còn lơ thơ nhà, lơ thơ hàng quán, đi một đoạn xa ơi là xa, thèm hơi người thì gặp chợ, hỏi làm sao không vui. Qua chợ bên đường, lòng nghĩ, thôi, làm như mình chưa biết gì về luật giao thông, không nhóm chợ nơi đây thì nhóm ở đâu bây giờ, đường sá chờ mấy mươi năm mới có, phải kéo nhau ra đó ngồi buôn bán, phô bày bộ mặt tươi mới của nông thôn, tiện thể dòm xe qua lại cho vui chớ. Bây giờ có kéo nhau xuống đập dưới kia mà nhóm chợ, anh bạn mình làm sao mà trông được cái cổ cao cao, cái cuời giòn tan, tươi tắn của cô nhỏ bán hàng, rồi nhớ hoài, nghe ngọt ngào hoài? Thì ra giữa những quãng đường xa ngái, chợ còn có nhiệm vụ là nhóm lên một bếp lửa đời, cho cuộc hành trình bớt xa đi.

Tôi lần nào qua chợ cũng giật mình, làm như gặp lại người nào đó, mà lâu lắm rất quen nhau. Hình như má, hình như chị, mà hình như giống hệt mình đang ngồi đó, quanh mình ngọt ngào buổi sớm mai trong.

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2008

Entry for July 02, 2008




Chuyện qua đường

Chuyện qua đường, đơn giản chỉ là chuyện… người ta qua đường như thế nào. Có điều, đoạn đường mà tôi hay “ngắm” người ta băng qua hơi đặc biệt: đoạn Nguyễn Chí Thanh, ngay trước cổng bệnh viện Chợ Rẫy...

Đoạn đường ấy thường hay kẹt xe. Đôi khi là do những chiếc xe cấp cứu lao nhanh qua, vội vã cùng tính mạng nguy kịch của một con người. Đôi khi là mấy chiếc taxi đưa người đã khỏi bệnh về nhà. Nhưng tôi để ý, phần lớn là do những người băng qua đường...

Trông gương mặt của những con người ấy thật giống nhau, có nét gì đó thất thần, một sự âu lo hiện rõ. Dường như tâm trí của họ còn lơ lửng đâu đó phía bên bệnh viện. Hẳn là có người đang lo lắng cho bố hay mẹ mình còn chưa tỉnh sau phẫu thuật, hẳn có người nghĩ về số tiền viện phí. Hay lo xem qua đường mua được cái gì với số tiền còm cõi trong túi...

Và thế là những người, những xe, những ồn ã chung quanh họ trở nên vô nghĩa. Họ cắm cúi bước từ phía bệnh viện qua dãy hàng quán bên này để mua thức ăn, một số nhu yếu phẩm, hoặc cũng chỉ để uống ly cà phê vỉa hè, lấy thêm chút tỉnh táo sau một đêm thức trắng để nuôi bệnh... Những con người đó qua đường chậm rãi, nhưng lơ đễnh. Đôi lúc họ giật mình vì tiếng còi quá to, một tiếng quát lớn nóng nảy, hay một chiếc xe máy phóng vọt ngang để lại làn khói xe hờ hững. Nhưng chỉ là trong tích tắc, rồi họ lại lơ đãng quay về, chạy đuổi theo những lo lắng của riêng mình... Ôi, những khuôn mặt, với phần lớn là nỗi buồn và sự vất vả.

Đương nhiên, cũng có người nở nụ cười, hăng hái qua đường mua cháo, vì người mẹ già đã được bác sĩ cho phép ăn uống. Có người hào hển chạy qua mua thêm vài toa thuốc vì thân nhân đã khoẻ, chuẩn bị về quê. Đó là những nụ cười hiếm hoi giữa một khúc đường mà lúc nào người ta cũng cảm giác sự bất an.

Tôi còn nhìn thấy ở những con người đó một sự quê mùa, chất phác. Trong số những người băng qua đường, có những người, thậm chí, mới lần đầu biết... băng qua đường ở Sài Gòn như thế nào. Họ chầm chậm, lần lựa trên vỉa hè, không biết làm thế nào để luồn lách qua dòng người xe mắc cửi. Thương nhất là những cụ già, họ níu vào nhau, và níu vào một người trai trẻ nào đó để qua đường. Những lúc ấy từ trong xe nhìn ra, tôi cảm giác như xe cộ Sài Gòn, sự vội vã đặc trưng của Sài Gòn lắm lúc vô tình với người khác quá...

Rồi một chiều mùa hè, trời nhiều gió. Đi ngang qua đoạn đường với những phận người âu lo ấy, tôi chợt nghĩ: sẽ có lúc mình cũng băng qua khúc đường này, cũng lơ đễnh vì đầy âu lo như họ. Cuộc đời mà, ai biết được… Chưa khi nào tôi thấy mình đồng cảm với những con người tội nghiệp ấy như thế. Và chợt nhận ra: sao đoạn đường này không có đèn giao thông nhỉ? Đèn giao thông thì đúng là sẽ giảm kẹt xe, sẽ giúp người đi bộ qua đường dễ dàng hơn. Nhưng đôi khi nó còn giúp cho những chiếc xe vẫn thường chạy qua cuộc sống một cách vô tình, dừng lại, và nhìn xem đồng loại của họ đang qua đường - trước mặt họ - đầy âu lo, trăn trở như thế nào…

Lê Hữu Thuận.

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2008

Entry for June 16, 2008




Ông già nhà gần đình Thạnh Phú qua đời, tiếng trống chiều nay báo tin buồn vời vợi trên từng đọt dừa, đọt chuối, bờ mương. Làng xóm rục rịch kéo lại, làm cuộc tiễn đưa ông. Có người vừa đi vừa cài nút áo, vẫn không hiểu hôm qua ông già còn chống gậy lại cúng đình, bữa nay đã hóa người thiên cổ, sao đời người biến đổi như cái chớp mắt vậy.

Cuộc tiễn kéo dài hai ngày, như một trường ca nhiều biến tấu. Lung linh. Đoạn buồn nỉ non cũng có vài nốt vui, khi người con gái xếp quần áo tẩn liệm phát hiện ra ba mình có tới hai cái quần… rách đáy. Anh con rễ đang mặc áo của ông già vợ sực nhớ cởi áo để… trả, sợ ông già cứ lẽo đẽo vào giấc mơ mà đòi thì phiền. Ông nằm đó, bụng có nải chuối, miệng ngậm vàng, với bảy hột gạo trắng tinh. Ông nhắm mắt, mấy bà già người yêu cũ lại, kêu mở mắt ra đi, nhìn tui nè ông, sao ông đi hỏng nói lời nào vậy (nhưng ông mà nói thì có phải mấy bà té ngửa ra chết giấc không. Mấy bà này tự tin thấy ớn, nhăn nheo teo tóp, còn hấp dẫn gì đến nỗi ông phải mở mắt ra). Ông già vẫn nằm im (chắc sợ nải chuối… rớt), miệng hơi mỉm cười, như nói, hà hà, cuối cùng cũng chịu khóc tui, bỏ công hồi mấy bà bỏ tui đi lấy chồng tui cũng khóc.

Bản nhạc tiễn đưa sau cao trào than khóc khi đậy nắp áo quan, thì trở lại những tiết tấu da diết, nhẹ nhàng. Mấy đứa trẻ con chí chóe giành công việc đốt giấy vàng mã cạnh ông nội, ông ngoại chúng. Nhìn lửa bập bùng cũng thích. Ở ngoài sau bếp mấy chị chuẩn bị dọn cháo khuya ăn với củ cải muối trộn giấm đường, tép rang, thịt vịt xào gừng. Mấy bà già chuyền tay nhau cái micro hát những bài kháng chiến cũ, nghe “mùa thu rồi ngày hăm ba…” là muốn nhịp… đùi. Rồi ngậm ngùi chuyển qua Mười thương theo điệu nói thơ Bạc Liêu, “má ơi con chửa lấy chồng. Con chờ chiến sỹ thành công trở về…”. Chiến sỹ lần này không về nữa, mấy bà kia kéo chéo khăn đội đầu, chấm nước mắt. Đám thanh niên ngồi nhậu khề khà, vừa ngóng coi cái micro mà rảnh, tụi nó sẽ ca vọng cổ tới sáng. Tụi con gái lặt giá, tỉa bông củ cải… cười lích rích bảo nhau, sao ông thầy chùa đẹp trai mà đi tu, uổng.

Người nhà ông già đi qua chỗ ông già hay ngồi uống trà, đứng nhìn, rớt nước mắt, rồi ai đó réo hỏi, nước mắm để đâu, đường còn hết, chị tất tả quay đi. Có nhiều việc để làm, để đối đãi tròn vẹn. Chị có một khoảng thời gian dài phía trước để thấu tận nỗi mất mát này, khi bà con hàng xóm đã về, và chị đi đâu cũng gặp những chỗ trống không sao lấp đầy được. Nhưng bây giờ chị phải chuẩn bị mâm cơm chay để cúng cha rồi, làm việc thôi.

Ông già sống một đời bình thường, gắn bó với ruộng vườn, làm một cuộc đi bình thường. Sáng không thấy dậy, thì không dậy nữa, vậy thôi. Mấy bà già ngồi nhai trầu nói, ổng đi trước, rồi từ từ mình cũng đi theo, xuống dưới cũng lại gặp, hỏng sớm thì muộn. Già trẻ ai cũng tin vào một thế giới khác sau cái chết, nên họ bùi ngùi một chút rồi lại cười, nói những câu chuyện buồn cười. Con người, khóc mãi mà được sao ?

Gần sáng thì trời mưa nhỏ, đám thanh niên uống say ca hát mệt quá nằm ngáy không hay nước mưa xuyên qua cái rạp lợp bằng lá dừa làm ướt áo. Khói hương gian nhà trước vơi đi, khói bếp ở nhà sau vẫn đầy ngun ngút. Mấy chị gần như không ngủ, chuẩn bị bữa ăn cuối cùng của cuộc tiễn đưa.

Nắng lên, mấy đứa nhóc nôn nao trong bụng. Đội đạo tỳ đang tập luyện ngoài liếp vườn. Người cầm đuốc với người đóng vai quỷ là hai chú cháu, chú nói, có đá tao thì đá nhẹ nhẹ nghen mậy, tao già rồi. Nhưng lúc làm nghi lễ đuổi quỷ trước quan tài, ông chú ngậm dầu phun ra lửa khè khè, thằng cháu – quỷ bị đánh te tua, cái mặt vẻ bằng lọ nồi vằn vện của anh nhăn nhó, làm tụi con nít vỗ tay cười. Kiểu này thì cháu giận chú một tuần là ít. Theo đám con nít, màn đuổi quỷ của đội đạo tỳ này hấp dẫn hơn mấy đám tang trước, đánh y như trong phim Hồng Kông vậy.

Nhạc lại trỗi khúc thê thiết, tiếng trống đi trước, dắt linh hồn theo loanh quanh mấy liếp dừa liếp chuối, mấy con mương săm sắp nước. Đoàn người vịn mùi khói nhang lũ lượt lội bộ theo, chân bước xôn xang trên bờ cỏ.

Người đi đi thật rồi.

Nhưng bài hát vẫn còn chưa hết hẳn, người trong xóm lục tục ngồi lại, ăn với gia đình thêm bữa cơm. Họ í ới hỏi nhau bao giờ thì về, về đường nào, xuồng hay xe, tiện đường quá giang. Họ nói ông già có phước, đám tang ấm cúng, chu đáo quá chừng. Đi qua khúc quanh trên đường, bỗng ai đó nhắc, hôm trước, ông già còn chống gậy đứng chỗ này, hỏi, “mạnh giỏi, con Ba ?”.

Cuộc tiễn đưa như chưa từng có.

NGUYỄN NGỌC TƯ.

Kừ xém sặc với bà NNT này, đọc xong entry này tui nhắn cái tin nói tuần này dzìa SaĐéc hổng chừng xách xe chạy qua Vĩnh Long xuống Vũng Liêm mần một vòng.....chơi.

Bả nhắn lại: "Ừa. Nhớ ghé nhà ông chơi nghen. Ổng đang đợi ở nhà."

Ặc ặc...khặc khặc.......sém chút sặc :)


Thứ Tư, 21 tháng 5, 2008

Entry for May 21, 2008




ĐẤT CỦA MẸ
Võ Đắc Danh

Kính gởi Anh Hai Bình !

Tôi về quê vào những ngày đầu tháng Năm, không khí Cà Mau có cái gì đó nặng nề, căng thẳng. Trên trang nhất của các tờ báo lớn ngày nào cũng có hai chữ Cà Mau cùng với những thông tin không vui về anh: Bí thư tỉnh ủy Võ Thanh Bình. Chuyện cũ lẫn chuyện mới: Chuyện ký duyệt dự án lập bản đồ địa hình 39 tỷ đồng sai nguyên tắc, chuyện viết giấy giới thiệu cho một tên tội phạm đang có lệnh truy nã đi xuống huyện làm phim, chuyện ký công văn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho một người phạm tội, chuyện bổ nhiệm anh cán bộ kiểm lâm sang làm giám đốc sở văn hóa, chuyển ông trưởng ban tổ chức tỉnh ủy sang làm giám đốc sở nông nghiệp và chuyển ông giám đốc sở nông nghiệp sang làm bí thư đảng ủy khối, bổ nhiệm ông phó văn phòng ủy ban tỉnh lên làm giám đốc sở giao thông và đưa ông giám đốc sở giao thông xuống làm phó ban tôn giáo . . . rồi đến những thông tin nhiều cán bộ dùng tiền để chạy chức chạy quyền mà dư luận đang trông đợi từng ngày, chờ anh công bố. Hàng chục nhà báo đang có mặt ở Cà Mau để chời đợi kết quả làm việc của đoàn cán bộ kiểm tra Trung ương đối với những sai phạm của anh và ông Trần Công Lộc - viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Rồi như “nhà sập bìm leo”, liên tiếp hai ngày trước cổng trụ sở tỉnh ủy, hàng chục người dân với băng, cờ, khẩu hiệu tố cáo ông Võ Thanh Bình cướp đất của gia đình liệt sĩ. Tôi gọi điện cho anh nhiều lần, nhưng anh cứ để mặc cho chuông reo.

Tôi biết anh đang giận tôi.

Hồi trước, anh từng nói với tôi, “Chỗ anh em cùng họ với nhau, lúc nào tôi cũng coi chú như em ruột. Khi nào chú cảm thấy nhớ quê thì cứ mua vé bay về chơi, mọi thứ tôi lo hết”. Mặc dù tôi chưa lần nào ngẩu hứng về quê như lời anh căn dặn, nhưng tôi vẫn ghi nhớ trong thâm tâm đó là một ân tình.Thế rồi một hôm anh gọi điện cho tôi, nhờ tôi can thiệp với một tờ báo đang “tấn công” anh về chuyện đất đai. Anh nói: “Tôi biết, tác giả của những bài báo ấy dù gì cũng là đàn em của chú, chú nói giúp tôi một tiếng, tôi mang ơn !”

Anh Hai thân mến !

Tôi biết tôi từ chối giúp anh trong lúc ấy, có thể là một sự phủ phàng. Nhưng nếu tôi buông một câu nói với người bạn đồng nghiệp của tôi để can thiệp giúp anh thì với mẹ Giàu, không chỉ là sự phủ phàng mà còn là điều ác. Tôi muốn anh hiểu được điều ấy mà chia sẻ với tôi, đừng trách, đừng giận tôi, bởi tôi không thể vì anh mà quay lưng lại với mẹ Nguyễn Thị Giàu, một người mẹ đã chịu quá nhiều đau khổ.

Anh Hai biết không, mẹ Nguyễn Thị Giàu và ông Phạm Văn Kiều, cả hai vợ chồng đều là đảng viên, được Đảng phân công ở lại miền Nam sau tập kết. Năm 1956, trong một cuộc họp tổ đảng tại nhà mẹ ở ấp 2, xã Khánh Lâm, U Minh, giặc phục kích, nã súng vào nhà, mẹ Giàu đã nhảy ra đỡ nòng súng giặc cho đường đạn bay lên trời, để đồng đội mình chạy thoát. Giặc rút quân, mẹ đốt đuốc là dừa đi tìm thì thấy ông Kiều, chồng mình bị một viên đạn xuyên qua bụng, ruột đổ ra ngoài, nằm bất tỉnh ở ven rừng. Mẹ đóng vai một người lái heo để chở chồng ra bệnh viện Cà Mau, nhưng đến bót Cái Tàu thì bị giặc phát hiện, họ giải ông về chi khu Thới Bình. Trên đường đi, ông Kiều đã cắn răng, bức ruột tự tử để khỏi rơi vào tay giặc. Cũng trong ngày hôm ấy, lính từ chi khu Biện Nhị kéo vào Khánh Lâm, phá nhà, tịch thu tài sản mẹ Giàu, bắt mẹ cùng đứa con trai mới sinh chở ra Cà Mau, bỏ tù hơn một năm với những trận đòn chết đi sống lại.

Ra tù, về căn cứ làng rừng, mẹ không được tiếp tục sinh hoạt Đảng vì chưa được xác minh trong thời gian ở tù mẹ có khai báo hay không. Không chịu đựng nỗi mặc cảm bị nghi ngờ của những người bạn kháng chiến, mẹ dắt bảy đứa con về quê cũ ở Huyện Sử, Thới Bình, sống trong vùng kiểm soát của chính quyền họ Ngô. Nhưng với một lai lịch “gia đình Việt Công nằm vùng”, mẹ bị ghi vào sổ bìa đen của chính quyền sở tại, nhất cử nhất động đều có người theo dõi. Không chịu nổi sự kềm kẹp, mẹ âm thầm tiễn hai đứa con trai lớn đi bộ đội rồi dắt díu năm đứa còn lại ra sống ở chợ Cà Mau. Tại đây, mẹ gặp ông Nguyễn Hồng Dân, một người đồng hương cũ, góa vợ, nuôi bảy đứa con. Hai cuộc đời ấy nương tựa vào nhau, vừa mua gánh bán bưng, vừa mua mười hai công ruộng để mưu sinh, gồng gánh hai đàn con, chống đỡ sự đói nghèo.

Anh Hai biết không, năm 1968, trung đoàn 32 của quân đội VNCH tịch thu của mẹ Giàu một phần ba số đất để làm hậu cứ, cùng lúc ấy, mẹ nhân được hung tin: hai người con trai của mẹ, anh Phạm Ngọc Ẩn và Phạm Chiến Đấu đã hy sinh ở chiến trường đông Nam bộ. Sống bên cạnh hàng rào kẽm gai của giặc, được tin hai nắm ruột đứt lìa cùng một lúc mà không dám gàu thét, không dám chia sẻ cùng ai, mẹ âm thầm ra bờ chuối sau vườn ngồi khóc. Một người hàng xóm phát hiện, hỏi lý do, mẹ chỉ nói bị chồng tệ bạc.

Anh Hai ạ, là một sĩ quan quân đội, có lẽ hơn ai hết, anh là người thấu hiểu nỗi đau của mẹ Giàu trong cùng một ngày phải mất hai đứa con trai. Tôi đã từng chứng kiến những sĩ quan quân đội ta với những tình thương cao đẹp, họ nuôi cha, nuôi mẹ của những đồng đội mình đã hy sinh cũng như cha mẹ ruột. Nhưng mẹ Giàu vô phước, chẳng những không gặp những tình thương cao đẹp ấy mà nỗi đau mất mác cứ chất chồng lên. Năm 1985 – không rõ lúc ấy anh Hai đang ở đâu - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Minh Hải căn cứ vào sơ đồ cũ của trung đoàn 32, cho rằng gần một mẩu đất còn lại của mẹ Giàu thuộc đất quốc phòng của chính quyền cũ, nên ra quyết định thu hồi. Thu hồi mà không phải đền bù, cũng không cho biết rằng mẹ sẽ về đâu ? Anh Hai có biết mẹ về đâu không ? Mẹ về một túp lều đổ nát cách đó vài chục mét, chỉ 30 mét vuông mà phải chứa gần một chục con người. Anh Phạm Tấn Sĩ, con trai mẹ xuống bến sông dựng chòi chèo đò kiếm sống, chị Phạm Thị Ánh, con gái của mẹ, dắt năm đứa con lên Cầu Nhum thuê đât cất chòi, anh Phạm Hòa Bình, người con trai hồi mới vài tháng tuổi đã vào tù với mẹ, giờ lang thang đi làm mướn ở U Minh.

Phần đất của mẹ - bị thu hồi vì đất quốc phòng của chính quyền cũ – bây giờ, ngoài nhà hàng khách sạn T98 – nơi ăn chơi khá nổi tiếng ở Cà Mau – còn lại là của anh, 2520 mét vuông mặt tiền đường Nguyễn Khắc Xương với tường rào bao bọc, vườn kiểng, chuồng cá sấu, một cơ ngơi mà dù hiện tại có thể tính ra vài chục tỷ, nhưng với mẹ Giàu, kính thưa anh Hai, nó không thể tính bằng tiền !

Anh sống vương giả như thế chỉ cách căn chòi ọp ẹp của mẹ Giàu vài chục mét, cái khoảng cách của không gian tưởng có thể sờ đụng được. Nhưng cái khoảng cách của cuộc đời, của lòng người sao quá xa xôi, xa đến mức không thể nào nhìn thấy. Ngày mẹ Giàu trút hơi thở cuối cùng – sau hơn hai mươi năm mõi mòn đội đơn đi kiện – anh lạnh lùng đến mức không bước qua nhà mẹ thắp một nén nhang. Sao vậy anh Hai ? Anh đã từng là lính, là đồng đội với con mẹ kia mà ! Anh sợ đối diện với sự thật hay anh coi đất đai quan trọng hơn tình người ?

Nói đến đây, có lẽ anh hiểu vì sao tôi không can thiệp với thằng bạn đồng nghiệp của tôi khi nó “tấn công” anh. Thật tình mà nói, lúc ấy, khi tôi nhìn hai bức ảnh của bạn tôi đăng trên tờ báo, bên cạnh bức ảnh mẹ Giàu ngồi trên chiếc xe lăn trong căn chòi đổ nát là cái cơ ngơi đồ sộ của anh tọa lạc trên mảnh đất từng là mồ hôi nước mắt của mẹ Giàu, tôi muốn gọi điện nói với anh rằng: “Anh Hai ơi, đó là đất của mẹ, dù là “đất quốc phòng” đi nữa thì nó vẫn là đất mẹ, là Tổ quốc. Bây giờ, dù nó là của anh, sổ đỏ của anh, đất nầy vẫn là đất mẹ. Anh hãy xử sự với mẹ của chúng mình sao cho xứng đáng là một người con trước khi xứng đáng là người lãnh đạo của tỉnh nhà, là đầy tớ của nhân dân !”

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2008

Entry for February 03, 2008

TÁM MƯƠI PHẦN TRĂM

Bạn bè bảo tôi viết về đề tài nông dân là quá trời khôn, đối tượng đọc nhiều, mà đề tài cũng phong phú,đến tám mươi phần trăm dân số của Việt Nam là nông dân kia mà. Tôi nghe, cười, chảy nước mắt ra, như khóc.

Phải, tôi đang viết về họ, những người nông dân nhưng viết trong im lặng rợn người, không phản hồi, không chê bai. Chẳng có bao nhiêu trong số tám mươi phần trăm ấy đọc được những gì tôi viết. Với họ, văn chương vừa là thứ xa xỉ, vừa là đồ bỏ đi. Có người còn không biết chữ, có người áo không lành, có người không đủ gạo ăn, dậm lia thia trên những cánh đồng năn bỏ vô keo chao để đem ra cổng trường tiểu học ngồi bán... Những người ấy, tôi bưng văn chương tới cho, họ còn nổi quạu, chửi thề, phải trái bắp, gói xôi.. còn giúp người qua bữa, chứ một đống chữ làm sao no lòng.

Và những ảo tưởng văn chương của tôi đã tan, lâu rồi. Nhiều lúc, ngồi trước trang viết, tôi thấy tuyệt vọng. Làm sao diễn tả được cái xót của mồ hôi chảy xuyên qua chân mày xuống mắt một người gánh nước giữa nắng trưa tưới cải? Làm sao nào chuyển tải được cái đau thắt ruột khi nhìn đồng lúa sắp thu hoạch của mình tả tơi trong mưa bão? Làm sao tôi lột tả được tâm trạng của người cha khi những đứa con giành nhau cạo cơm cháy? Khi cuốn chiếu ngồi chò co nhìn mưa nửa đêm giột tinh tang xuống đầu giường? Họ buồn, nhưng buồn đến độ khủng khiếp nào? Tôi biết diễn tả cái buồn ấy ra làm sao? Bởi so sánh với nỗi buồn... mất điện thoại của tôi, nỗi buồn mất việc, hay thất tình của bạn, thì quá khập khiểng, chênh vênh.

Và ngay cả nỗi vui của người nông dân, cũng khiến người ta thắt lòng khi chia sẽ. Tôi có quen một người vừa được giao việc xé phiếu thu tiền nhà vệ sinh chợ xã. Gặp tôi trong cái ngày "trọng đại" đó, ông hồ hởi khoe, "nhà tôi giờ có đồng ra đồng vô rồi, cô ơi". Nghe nói, ông cũng trần thân, làm đơn xuôi ngược, cuối cùng, "ghi điểm" là vì gia đình không đất sản xuất, mới được "chọn mặt gởi... nhà vệ sinh". Vậy đó, người ta vui muốn chết, mà tôi thì không thể buộc miệng cười. Bởi nét mặt sương gió của ông tôi thấy lẫn khuất sự xót xa. Cũng vậy, cái người vừa nhận được sổ nghèo kia, làm sao trong mắt họ chỉ có hớn hở mà không vương chút tủi buồn. Cực chẳng đã… Chợt nhận ra, niềm vui của người nông dân bé mọn, giản dị, đạm bạc biết chừng nào. Chỉ cần một mùa lúa trúng. Một chén cơm đầy với thịt cá tươm tất. Một chiếc ti vi để coi cải lương vào mỗi chiều thứ sáu. Một chiếc xuồng nhỏ để đêm đêm đặt trúm, giăng câu…

Tôi bắt đầu nghĩ tới ngày mình không viết về những người nhà quê nữa. Bởi tôi không có nhiều lựa chọn, hễ viết về nông thôn là nói ngay tới cái cơ cực, thiệt thòi, nghèo đói. Một sự lặp lại nhàm chán. Mới đọc cái tựa là người ta biết tỏng tòng tong trong bài ấy tôi nói cái gì. Ai nghĩ là tôi vớ được đề tài phong phú đâu. Ai sẽ chấp nhận tôi viết như vầy, "sớm đó chú Hai Lúa đi đánh tennis với mấy ông bạn láng giềng về, đang dắt con chó becgiê đi chơi điện thoại chợt reo tửng từng tưng, giọng Ba Ngô bên kia xởi lởi, lâu qua không gặp cha nội rồi, chiều nay lại nhà hàng Diễm Diễm uống với nhau một bữa, tui mới lên mấy ao cá được gần một tỉ đồng đây. Mà, mùa lúa rồi ông cũng thu năm trăm triệu chớ ít gì…". Bạn đọc sẽ thấy ngộ, thấy kỳ cục, vô duyên đến mắc cười. Bi kịch hơn, là người đọc sẽ mắng tôi xối xả, nông dân đã khổ muốn chết rồi, mà nhà văn còn chua xót, mỉa mai… Buồn thiệt buồn, phải nhân vật trong đoạn văn trên là cán bộ, doanh nhân, thì quá hợp lý, còn đằng này…

Tôi nhận ra, tám mươi phần trăm dân số Việt Nam, con số này giống như cua ốp, nghĩa là có vẻ hùng hồn, to tát vậy, chứ trong ruột teo héo, rỗng không. Người ta chẳng nhớ tới họ khi khi nghiên cứu đề tài khoa học hay thiết bị máy móc này nọ (kết quả là nông dân tự mày mò chế tạo ra máy để gặt, sấy lúa, gieo mạ, tách hạt bắp, đến cả… máy bay). Người ta quên mất tiêu (hay giả bộ quên) nông dân khi quyết định tăng học phí, tăng giá tiêu dùng, khi chia chác đất đai… Và nhiều lúc người nông dân bỗng vô hình, trong vắt trong mắt những công chức ít khi cười. Có cảm giác như người nông dân sống bình dị, lặng lờ quẩn quanh trong luỹ tre làng lâu quá nên đã bị lãng phai đi.

Ngày mai này, tôi cũng buộc lòng quay lưng với họ, làm ơn ai đó, cất lên dùm những tiếng nói xót xa!!

NGUYỄN NGỌC TƯ

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2008

Entry for January 16, 2008

Dời bến


Bà con của một người bà con dẫn cô lên giúp việc nhà họ vào một bữa trời mưa. Cô vắt đôi tà áo ướt đẫm nước, tròn con mắt phân trần, “xứ gì ngộ quá, đâu cũng có nhà mà không có chỗ đụt mưa. Ở đâu cũng tường rào kín mít, kiếm đỏ con mắt mới gặp được mái hiên, tui mới đứng chút xíu đã bị kêu tránh ra cho người ta buôn bán. Phải ở dưới quê bà con còn đem ghế cho ngồi…”

Ngay cái ngày đầu tiên đó cô đã mang một chuẩn mực mới đến với gia đình họ, tạm gọi là “phải ở dưới quê…”. Ngó mấy con cá rô nằm cạnh rổ cải bắp, cô thẩn thờ, trời ơi, phải ở dưới quê, mình nấu cá rô với bông so đũa, ngọt nước dữ lắm. Bông so đũa mùa này trổ trắng trên mấy bờ kinh, mật ơi là mật. Hàng xóm cãi nhau, cô ngó qua rào, “phải ở dưới quê thể nào cũng có người chạy tới can, người ngoài nói tiếng ngọt tiếng lạt, cũng đỡ căng lắm…”. Sau mỗi bữa ăn, cô tần ngần, “phải ở dưới quê, đồ ăn dư như vầy là nuôi được mấy con heo…”.

Cả nhà chủ vừa buồn cười, vừa khó chịu. Họ đã sống một cuộc sống được xem là hiện đại, đầy đủ, họ hài lòng với những gì mình có. Nhưng cô giúp việc tỏ ra không mấy hài lòng, suốt ngày đi so sánh, mà so sánh với nếp quê mới kỳ cục. Phải ở dưới quê, ra vườn chút xíu là kiếm được rổ rau rồi, đâu phải mua chi cho uổng tiền. Phải ở dưới quê, mùa này gió chướng thả cửa, ở trong cái nhà hả họng đón gió sông, mặc sức mà… run, mở máy lạnh làm chi, ngộp quá chừng. Phải ở dưới quê, chặt cây chuối ra ao tập lội, khỏi mắc công đi hồ bơi. Phải ở dưới quê…

Mỗi ngày qua, cô lại đưa ra một vài kiểu so sánh mới, chi tiết và tinh tế đến mức cô đặt cả bụi và cỏ lên bàn cân. Cỏ ở thị thành cũng vô duyên, phải ở quê, cỏ phơi khô, đem đốt, lấy tro trồng đậu, trồng dưa. Chủ nhà quen dần, thấy mến cái cách nói thẳng thừng, gọn lỏn, ngỏn ngoẻn, tỉnh bơ như thể cái xóm nhỏ heo hút kia mới chính là thiên đường. Và cô, dù đã xa mảnh thiên đường đó mà lòng còn cắm sào ở bến sông, níu mãi bụi ô rô, đọt nhãn lồng, hàng lơn nước xanh rêu, con gà mái quýnh quáng gọi đàn con đến bên ổ mối. Cô hòa nhập chậm, bởi bước chân cô kéo theo hàng hàng ký ức, lớp lớp nỗi nhớ. Dễ gì…

Mỗi người có một chuẩn mực của riêng mình để vịn vào, đối chiếu, so sánh. Chủ nhà từng nghĩ cuộc sống hiện đại, sung túc là thiên đường. Nhưng bây giờ thì họ hoang mang, thế giới mơ ước của họ có nguy cơ đổ vỡ trước cô giúp việc ương bướng, bởi cô không nghĩ vậy, gì chớ, quê cô là nhất. Cô là người không dễ bị thuyết phục, kể cả lúc buộc phải đồng tình, ừ cái bếp này không khói, khỏi bị chảy nước mắt, nhưng không khói thì không thơm mùi củi ướt, mùi những con mối nhỏ, trứng kiến bị cháy vàng, mùi khoai lang vùi trong than. Mỗi khi cô “nhưng” nhà chủ thót tim, vì thấy mình thua là cái chắc. Nhiều lúc nằm nhìn cái máy điều hòa thấy mặc cảm dễ sợ, mặc cảm với những ngọn gió phóng khoáng thổi nước chảy tràn lên những bờ sông quê cô. Và việc có nhiều tiền cũng đôi khi làm nhà chủ bẻn lẻn, họ không bao giờ mua được cái chốn nhớ cho mình, với khói đốt đồng, bông khế rụng, mấy con ong bầu vo ve đục kèo nhà làm tổ.

Sáu tháng, cô chỉ có cái lý duy nhất “phải ở dưới quê…” mà xiêu lạc cả nhà chủ. Họ bắt đầu cảm thấy cái nơi mà họ chưa từng đặt chân đến mới là thiên đường. Bữa cô về quê dự đám giỗ, họ nôn nao như chính mình trở về, đám trẻ con dậy sớm, lăng xăng dặn, chị Hai về nhớ đi câu thác lác, bứt bông súng, hái chùm ruột đem lên cho tụi em ăn nghen. Người lớn rảo qua rảo lại, ngó cô giúp việc nháo nhác bên cái giỏ, chỉ mấy hộp bánh tây, trà lài mà cô nhét vào, xổ ra, rồi lại nhét vào, mắc tức. Chút nữa thôi, chuyến tàu trưa sẽ đưa cô về lại thiên đường riêng mình. Nhà chủ ngó cái lưng cô giúp việc khuất dần và nghĩ thầm, mình đã từng có thiên đường, nhưng nó đã không còn nữa.

Cô trở lại nhà chủ cũng một bữa mưa rào. Dường như mưa cuối mùa. Lui cui rửa đôi dép, cô cằn nhằn, “rầu quá, dưới quê bước ra là gặp sình lầy, dơ muốn chết, phải ở thành phố…”.

Chủ nhà hơi khựng lại, ngỡ ngàng. Cô vẫn hồn nhiên, “đám giỗ làm bánh lủ khủ, phải ở thành phố, chạy ra chợ mua cho gọn…”. Lòng cô đã không còn buộc dây nơi bến cũ, thiên đường của cô cũng tan biến mất rồi. Rốt cuộc không có thiên đường nào hết. Chuyện bình thường thôi, cô đã được tiện nghi thành thị nuông chiều, nhận ra một chuẩn mực mới. Một trò chơi nhỏ của thời gian, nhưng mà chơi ác.

Biết vậy, nhưng nhà chủ vẫn buồn, vì lòng họ đã neo vào một cô giúp việc quê mùa, hồn nhiên, chân chất của mưa xưa.

NGUYỄN NGỌC TƯ

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2007

Entry for December 20, 2007

Hôm nay có phim Trung Quốc

Điểm phim : Hôm nay, có rất nhiều Đài truyền hình có phim Trung Quốc, bạn hãy mở kênh A xem cuộc chiến sống còn giữa hai cao thủ võ lâm của phái Hoa Sơn và Tuyết Sơn để giành một bí kíp giang hồ. Ở kênh K, nàng công chúa xinh đẹp nước Sở đang lên kế hoạch trả thù cho người yêu. Kênh B dành cho người yêu phim quan tâm đến đời sống chính trị xã hội khi theo dõi cuộc chiến chống tham nhũng của Bí Thư Trần đang vào giai đoạn gay cấn, hôm qua bạn đã thấy vợ bí thư nhận món tiền hối lộ lớn như thế nào. Kênh C và kênh H giới thiệu cuộc đời của những kỳ nhân Trung Quốc, họ là những quân sư giỏi cho những ông vua… dở giành lấy ngai vàng hoặc thôn tính nước khác. Và nếu bạn là người lãng mạn, hãy bật kênh D, U, S, Z, X… để xem những bộ phim tình cảm lãnh mạn của những đôi lứa yêu nhau nhưng luôn gặp trắc trở, lỡ làng, cái kết bất ngờ của những mối tình đang chờ bạn khám phá. Tất nhiên, với hàng loạt diễn viên trẻ đẹp, bối cảnh sang trọng, hoành tráng, những bộ phim Trung Quốc trên tất cả các đài truyền hình trong nước Việt sẽ lôi cuốn các bạn từ đầu đến cuối, giới thiệu đất nước, con người Trung Quốc một cách chân thực và gần gủi nhất, bạn sẽ cảm thấy đầy ắp thông tin về đất nước láng giềng.

Và cũng tất nhiên, trên tất cả các Đài truyền hình tỉnh lẻ và khu vực và Trung ương bạn sẽ không tìm thấy thông tin Trường Sa và Hoàng Sa bị Trung Quốc cướp trắng, một cuộc xâm lược không cần ngụy biện và che giấu, rất phách lồi, ừ, tao lớn, tao mạnh, tao thích lấy thì lấy, làm gì tao ?

Vì những nguồn quảng cáo vô tận, vì phim Trung Quốc bán rẻ như cho, vì đài tỉnh bên tăng thời lượng mà mình không tăng cũng kỳ... ?????

Nên hôm nay, bạn hãy bật tất cả các kênh để xem phim Trung Quốc. Ngay khi chưa mất đất thì cuộc xâm lược đã diễn ra rồi, và chúng ta ngồi trước màn hình ti vi sung sướng chấp nhận điều đó.

Có một đứa đã lỡ hơi khùng rồi, nên khùng luôn cũng không sao, muốn cướp đài truyền hình tỉnh vài giờ, đúng chương trình phim truyện, buộc nhân viên kỷ thuật chạy dòng chữ trắng “Tổ Quốc bị cướp một phần rồi, bà con ơi”. Hay lịch sự hơn, thay bằng “Vì bạn Trung Quốc chơi xấu, nên bữa nay tạm ngưng phim Trung Quốc” trên cái nền đen vô tận của bóng đêm. Ít nhất, sẽ có một phần mười người xem sẽ tắt ti vi trong một nỗi bàng hoàng của một người nhận ra mình dù hèn nhưng vẫn còn yêu nước. Chín phần mười còn lại, cũng biết bàng hoàng vì lỗi Trung Quốc tráo trở mà họ bỏ lỡ một tập phim Trung Quốc hay.

NGUYỄN NGỌC TƯ

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2007

Entry for November 26, 2007

Cái này là Bến Tre

Bến Tre

Cứ mỗi lần qua Trung Lương, tôi hay nghĩ, chỉ cần rẽ vào thành phố Mỹ Tho, qua một chặng đường, là tới một bờ sông. Qua con sông đó, tôi sẽ gặp Bến Tre. Tôi sẽ được về nhà.

Cái ý nghĩ đó gây cho tôi một cảm giác lạ lùng, chẳng có mối quan hệ ràng ruột nào ở đó, chẳng có giọt máu, đốt xương nào của tôi, của những người thân tôi ở lại trên mảnh đất đó, vậy mà vẫn thương, một cách kỳ lạ, vẫn nghĩ rẻo đất hẻo lánh kia là quê, là nhà mình.

Mà ngộ, tôi không biết Bến Tre. Cẩn trọng với từ “biết”, bạn chơi cùng nhau mười năm, tôi không dám nói biết, ở trên đất quê mình ba mươi năm, tôi ngập ngừng chưa biết đã biết chưa, huống chi, chỉ hai lần tôi đến Bến Tre.

Bến Tre lần đầu, tôi ngơ ngác như một cô dâu mới, con phà Rạch Miễu chạy chậm như chiều. Một chuyến phà thong dong, người ta bỏ ra khỏi xe, ngồi ngắm sông, người ta cười nói chậm, đốt thuốc và nhả khói cũng chậm rì. Thời gian như ngưng đọng, trên gương mặt người, trên giòng sông, trên cái cồn đất xanh rì cây trái. Suốt ba ngày sau đó, tôi chỉ biết Bến Tre có cái quán cháo cua đồng, nấm mối xào ngon rụng rún, sông Hàm Luông thì buồn lắm, đi mãi đi mãi mới gặp được một con tàu ngược nước. Sông chảy cũng chậm, dịu dàng. Người say chậm. Yêu chậm và tỏ tình chậm.

Lần thứ hai tôi qua phà Rạch Miễu, mưa và đêm tối mịt mùng. Xe mượn nên xe lạ, đất lạ, sông lạ, cả mưa, cả người cũng lạ. Đứng gần tôi có một bà mẹ trẻ đang cố giữ ấm cho con bằng chiếc khăn choàng mỏng. Đứa bé thì cố ngọ nguậy chui ra để nhoẻn cười với mọi người. Một dì khoác tấm cao su trên vai như Thi Sách sắp ra trận trong tuồng “Tiếng trống Mê Linh”, tôi đoán là dân buôn bán, vì bao đồ ngồn ngộn được ràng phía sau xe, âu yếm hỏi tôi, ăn mặc phong phanh vậy có lạnh không con? Tôi thưa rằng không, trước câu hỏi đó, tôi có lạnh vì mưa xiên qua phà, lay lắt. Nhưng bây giờ tôi ấm như đang ngồi trước lửa, và trong cơn chếnh choáng như lần uống rượu đầu đời, tôi gật đầu khi một chị hỏi quá giang về ngã ba Tân Thành.

Sau này, nhớ lại, tôi buồn cười. Đi một đoạn, mới sực nhớ chị ta bịt kín mặt, không biết là người tốt hay người xấu, không biết đoạn đường trước mặt có đèn hay tối tăm, có mũi dao nào rởn lạnh chỉa vào lưng ta, và người ấy có cười khà khà, cầm túi và xe (mượn) của ta chạy mất. Ý nghĩ đó càng ngày càng riết róng, nên vừa đi vừa phấp phỏng. Đằng sau, chị hồn nhiên kể chuyện mình, một người Bến Tre trôi giạt đất Sài Gòn, mai là đám giỗ ba chị, tôi canh chừng cái túi mình, nhát gừng ừ hử. Rồi chị xuống ngã ba đón xe ôm về Tiên Thủy, tôi vào thị xã. Tôi thấy không mất gì mà đau xót như đã mất gì. Mất trước khi gặp chị trên chuyến phà đêm đó, mất lòng tin.

Chuyến phà, nụ cười của đứa bé, dì “Thi Sách”, chị phụ nữ không gương mặt, không tên tuổi ấy, cũng là một phần của nỗi nhớ tôi. Một nỗi nhớ mơ màng và mỏng, dai như tơ nhện. Hay nó chỉ là cảm giác. Như một mảnh gió bị lá cây xé vụn, những vẫn còn đủ ướt lạnh, khi lướt qua da ta làm se những lổ chân lông, cay mắt, và rùng rùng từng đốt sống trên lưng. Cảm giác thanh sạch về một dòng Hàm Luông trong vắt, hiền hòa, dịu dàng, lừ đừ. Cảm giác bình yên như những con đường nhỏ hai bên phủ đầy cỏ chạy mê miết dưới những vườn dừa mê miết. Cảm giác ấm áp với những người bạn ít nói hay cười, từ tốn, nói câu nào chắc câu ấy, không giao đãi à ơi. Cảm giác thơm thảo như mùi nấm mối nướng rợp cả góc vườn bên sông. Cảm giác ngây dại, hồn nhiên khi rượu Phú Lễ ngấm vào lòng. Và tuổi thơ thiếu thốn nào dậy lên khi ngậm lại cục kẹo dừa ngọt lừ, béo ngậy.

Khi tôi ngồi ghi lại những cảm giác rời này, tôi nhớ câu nói của Tài, “Người ta tốt đến nỗi mình thấy mình không xứng đáng. Bến Tre dễ thương. Xuống đó gặp toàn đực rựa, nhưng về nhà viết mấy bài thơ... tình”. Tôi nhớ lúc ông sếp tôi buồn, căng thẳng, lúc đau, lúc bị những đồng chí của ông xiên tên vào lòng, ông hút thuốc nhiều, và ngó ra ngoài cửa, chép miệng, “nhớ tụi Bến Tre quá chừng...”. Cũng ông, mỗi khi vui, ông lại nhắc, phải có mấy đứa Bến Tre ở đây... Tôi nhớ lời Duyên khi từ giã Bến Tre rồi, “mưa ở đó cũng hiền”. Tôi nhớ tới lời bài hát, “Uớc gì đang trắc trở. Gặp nụ cười Bến Tre…”.

Nhưng cụ thể Bến Tre là gì, tôi không biết. Kỷ niệm gom lại thì cũng một chuyến đi chơi sông, đám bạn bè nhổ tôi từ quán này trồng qua quán khác, từ cháo cua đồng qua nấm mối, cháo vịt. Những con đường nối tiếp những con đường đưa tôi đến một đám cưới rộn ràng. Chú rễ cười xòa như năm trước cười tiễn tôi, đường dài, thẳm nắng. Những chiếc phà chậm rãi cắt ngang những dòng chảy chậm. Chôm chôm chín đỏ, chất vun trong những cái cần xé để bên đường. Những ông bà già nhảy tango trong sân nhà văn hóa. Rượu Phú Lễ trong vắt, sủi tăm. Một người viết lớn càng thu mình càng lồ lộ ra, con đường hẻm heo hút, ngôi nhà nhỏ, vườn dừa… không có gì che chắn được sự phát sáng đó. Những người viết trẻ hơn ngà ngà đọc những câu thơ cũ, xếp bằng ngồi mời rượu nhau ở hàng ba nhà của một nhà thơ nghèo, sau lưng là tấm vách bằng mê bồ trét cứt trâu, những tấm vách “che bề nào cũng gió”. Và căn gác trọ, có ông già ‘tiếp tân”vui tính, chỉ còn vài chiếc răng lơ phơ, duyên dáng kể chuyện đời mình (cũng) bằng thơ, vẫn nhớ phòng số 5 mà tôi từng ở, để lần sau nữa, ông lại trao cho tôi chìa khóa phòng số 5… Tôi nhớ được cũng chỉ vậy, viết trôi chảy cũng chỉ vậy. Những cảnh như vầy có thể gặp ở bất cứ đâu trên vùng đất Tây Nam Bộ này, nhưng cái cảm giác Bến Tre thì không lẫn vào đâu được.

Cảm giác của một người đứng trước sông. Giải thích về sự hiền hòa, ngang tàng, trầm tư, hào sãng và cởi mở của Bến Tre, tôi chỉ biết lấy cái tâm thế đứng trước sông của Bến Tre ra mà nghĩ. Quay mặt về đâu cũng sông, đi đâu, ngó đâu, Tiền Giang hay Vĩnh Long, Trà Vinh cũng có những dòng sông vây bọc, sông rẽ đất mà chảy, cắt những cù lao để trọn một vòng tay mà ôm lấy cù lao. Phía còn lại là biển. Bến Tre như một người ngồi thiền định trên một lá sen, tâm trong trẻo róc rách tiếng nước đang lên. Một miền Tây thu nhỏ ít phai lạt, nhiều cảm giác.

Và vì nó nhiều cảm giác, nên tôi không biết thể hiện, cụ thể hóa bằng câu chuyện của mình như thế nào. Viết lại cảm giác là một điều không trọn vẹn, ít nhiều dang dở. Huống chi là chia sẻ, bởi hầu như không thể chia sẻ một cảm giác mà ta đang có. Nên mỗi khi nghe bạn xa bảo sẽ đi miền Tây, tôi mời bạn đến chỗ tôi, tất nhiên rồi. Và Bến Tre. Thông cảm cho tôi, cứ mỗi lần khách đến, tôi căng như người vào trận đánh. Làm sao cho khách ấn tượng mạnh, thương nhớ dài lâu, làm sao khách còn quay lại một vùng đất không có cảnh quan hùng vĩ, tú lệ. Làm sao người nhớ ta như ta đã từng nhớ người. “Ra trận” chỉ những món ăn ngon lạ lùng, những cánh rừng ngập mặn mênh mông, những dòng sông mùa nào cũng đầy nhóc nước, những con rạch quanh co, những chiếc xuồng ba lá chao trên mặt nước mong manh… “Ra trận” còn có những con người, mà tôi nghĩ cũng là những kỳ quan. Và người Bến Tre với tính cách sánh đặc, nồng Tây Nam Bộ sẽ làm choáng váng, ngất ngây khách lạ. Tôi cũng là dân miền Tây, gặp Bến Tre còn thấy ngẩn ngơ, thấy ngọt ngào nữa mà.

Thông cảm cho tôi, một người tầm thường của vùng đất bị quên lãng, bởi chiến tranh, bởi trắc trở địa lý, bởi những vướng bận vụn vặt đời thường. Khó khăn, lâu lắc lắm khách mới đến được, cũng khó khăn và lâu lắc khách mới trở lại, dịp để gieo thương nhớ, lỡ không kịp, biết còn có lần sau?

Thông cảm cho tôi, bởi cái cảm giác Bến Tre tôi không thể cứ ôm ấp mãi, tôi cần người để nói, Bến Tre dễ thương hen, để nhận được sự đồng tình, “Ừ, Bến Tre dễ thương”. Để nhìn vào họ, thấy niềm vui ngọt lành nhói lên trong mắt, thấy ký ức mơ màng trở về những chuyến phà.

Chuyến phà mang vẻ mặt cô gái sầu muộn làm cho nhịp sống đô thị ngẩn ngơ, dừng lại bên kia những con sông. Quãng thời gian nó chạy lòng vòng qua những cái cồn xanh um cây trái đủ để người ta rũ hết bụi đường. Và hít thở gió sông, và thấy lòng lành những vết. Và khi tách bờ Bến Tre, chuyến phà bỗng trở thành cô gái đang hò hẹn, một chút bâng quơ, một chút nhớ, và chút gì đó tuyệt vọng… Bởi qua bờ, lưu lạc trên đất khác, quay lưng lại với sông rồi, kẻ còn sông trong lòng thì vẫn nồng Bến Tre, nhưng cũng nhiều người lạt đi, phai đi. Bởi qua bờ, cuộc sống ồn ào chen chúc, sự mệt mỏi ngay lập tức ập vào, và khi ngoái nhìn, Thương đã mịt mù xa, như ở một thế giới khác.

Bến Tre, rốt cuộc chỉ còn là những cảm giác. Mềm, ấm và ngọt ngào.

Và câu chuyện về nó được viết lên bởi một người viết vụng về, cũng không sao tránh khỏi rời rạc và chắp vá, nó không phải một bài bút ký thông thường, theo khuôn mẫu thông thường, tôi đến, tôi đi lòng vòng, tôi thấy, tôi về. Bởi tôi không đến, cũng không đi đâu, không thấy, và tôi không về. Tôi ở dưới mặt đất, cảm giác trên ngọn dừa, những con đuông dừa rúc vào nách lá non, và trong tổ chim vắt vẻo, những con sẻ nhỏ đang khẻ mỏ chui ra khỏi trứng. Tôi ở bên một con sông, cảm giác bờ kia đang liêu xiêu bông bưởi rụng trên những chiếc lá mục trong vườn. Tôi soi mình xuống nước, cảm giác dưới đáy sâu kia phù sa đang nhảy múa, dịu dàng.

Tôi đang phân bua với mọi người tại sao tôi là một người miền Tây lạt, vì những dòng sông quê tôi đều ở sau lưng tôi. Hay sông luôn ở trước mặt, nhưng tôi đã quay lưng lại ?

NGUYỄN NGỌC TƯ

Cái này là Cà Mau

Tàu chật
Tôi chọn một chỗ ngồi gần cửa sổ, vừa mát vừa có thể nhìn sông. Nhưng cơn gió ướt lạnh kéo theo giề mây sẫm lợp bầu trời tối sầm lại đã làm cuộc hành trình không còn hoàn hảo như hình dung của tôi. Tàu đi khi mưa vừa tới. Người ta đóng tất cả cửa sổ, cửa trước để tránh mưa xiên, trong tàu hầm hập hơi người, nóng rẫy, mồ hôi ai nấy đầm đìa.

Thất vọng. Bên ngoài khung cửa, cách một màn mưa, là triền sông với những xóm làng thấp thoáng sau những rặng cây. Đi lâu lâu, sẽ thấy một cái chợ nhỏ, một chòm nhà sàn cất chồm ra sông, bán những cái chum vại đựng nước, lá chầm đóp… Ánh lửa bùng lên từ một lò rèn cũ kỹ. Vài người đàn bà lúi húi vo gạo, rửa chân bên sàn nước, trẻ con ngụp lặn cạnh những bụi lục bình trôi rười rượi. Nhưng cơn mưa đã nhẫn tâm đóng sập lại, chỉ còn biết nhìn mồ hôi chảy ròng trên mặt nhau, trong thứ ánh sáng nhờ nhờ.
Ngộp thở, mà chiếc tàu thì cứ è ạch ghé đón khách hoài, người ngồi tràn ra cả ghế xúp. Ban đầu, như thói quen khi ngồi trên những chuyến xe, tàu, cái đầu mơ mộng của tôi nhảy múa. Cái chị kia chắc là giận chồng na con về nhà má, nên nom trơ trọi, buồn rượi. Người đàn bà và cậu thanh niên ngồi đằng sau dường như đang hẹn hò, dù họ cố ý ngồi như những người xa lạ nhưng ánh mắt nhìn nhau kìm nén và dịu dàng biết bao. Ông cụ xách cái giỏ tre nhốt mấy con gà ác, có phải đi cho thằng cháu nội ? Cô bé kia, dường như xa nhà lần đầu nên cứ ngó lên bờ mà nước mắt rưng rưng. Trong cái góc nhỏ của mình, rảnh rỗi tuyệt đối, cô độc tuyệt đối, tôi có chút thời gian để nhìn những phận người, cho trí tưởng tượng tôi vẽ vời, bay bỗng.

Đi được quãng đường mơ mộng tắt lịm, vì bực mình. Cứ ngó ra cửa tàu nhưng chẳng thể chặn được việc lâu lâu nó hé ra, có người bước vào. Trẻ con lủ khủ, một đứa khóc ré lên, những em bé khác cũng khóc theo. Đã vậy, mấy con vịt cũng thò đầu ra khỏi giỏ kêu lạc cạc. Một mớ âm thanh rối bời. Ai đó ca cẩm với chủ tàu, rước khách làm chi mà rước quá chừng, chật muốn nín thở luôn. Một thím đang ngồi bệt dưới sàn tàu, cầm cái nón phe phẩy quạt, nói vói xuống, “hôm qua nguyên chiếc tàu này chỉ có mình tui, ế thấy thương, bữa nay may nhờ đông khách, kệ, chịu cực chút cho hia này bù lỗ bữa trước”.

Câu nói bỗng dưng làm mát rượi con tàu. Hay vì ngoài trời đã bớt mưa, ai đó bật cửa sổ lên ? Hay vì cửa trước lại hé ra lèn thêm người nữa ? Một cô nhỏ nhắn vuốt mái tóc lấm tấm nước, ngó quanh, buộc miệng, trời ơi, đi kiểu này ai mang bầu là… đẻ luôn. Trong câu nói là cái cười hồn hậu. Có cái gì đó không hợp lý ở đây, nếu nói vậy thì có nghĩa là than vãn, cằn nhằn, đáng lẽ cô phải nhăn nhó, quạu quọ. Nhưng cô cười.

Mọi người cũng đang cười, bà mẹ cười dỗ đứa con, ông già cười vì thằng nhỏ xa lạ bên cạnh cứ ngã vào vai ông mà ngáy. Những nụ cười không vì bất tiện, nóng nực, chật chội mà bay hơi, lạt. Không còn lối đi, mỗi khi có người ngồi phía sau ghé lên bờ, xảy ra một vụ nhốn nháo, “ui da, đạp tiêu cái móng chân mới sơn của tui rồi”, “chèn đét ơi, dơ cái quần đi ăn đám cưới”, “cái bụng tui bự vầy làm sao hót lại cho ông qua ?”. Cảm giác như xem bộ phim bị lồng tiếng nhầm, bởi những gương mặt bình thản, vui vẻ kia chẳng ăn nhập gì với những câu nói mang nội dung ta thán.

Những nhà làm phim truyền hình Việt Nam chắc là hay đi những chuyến tàu như thế này nên nhân vật của họ cũng tiếng một đường, hình một nẻo. Ý nghĩ đó làm tôi buồn cười, thấy mình nhẹ nhỏm. Vì mọi người quanh tôi đang nhẹ nhỏm.

Khi mưa đã vô tình giăng kín vẻ đẹp của sông, của những xóm quê heo hút bên bờ, bất ngờ, tôi đã gặp những người thật đẹp. Họ ngồi kia, và không tắt nụ cười, không thèm khổ tâm vì đi lại cách trở, khó khăn, vì chen lấn, chật hẹp, vì nóng hay vì mưa. Họ bảo nhau cách nuôi trẻ sao cho… ú tròn, họ hỏi thăm chuyện vụ mùa, buôn bán, họ than vé tàu mắc mỏ nhưng vẫn xuề xòa, “Ừ, lúc này xăng dầu lên giá quá chừng. Thời buổi khó khăn mà…”. Có thể, suốt một đời người ta chỉ gặp nhau một lần thôi, trên chiếc tàu ọp ẹp này, và họ đã dùng quãng thời gian ít ỏi đó để chia sớt chút đời.

Tôi mở cửa sổ, trên sông vẫn còn lay phay một làn mưa mỏng. Mưa xiên vào ô cửa, tôi buộc miệng nói mưa ấm quá. Ai đó nghe thấy, cười, nói ngộ hôn, mưa mà ấm nỗi gì.

Tôi thì không nghĩ mình mắc lỗi ngữ pháp. Mưa ấm thật mà.

NGUYỄN NGỌC TƯ

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2007

Entry for November 12, 2007

Thư gửi ông Sơn Nam


Nhà Quê nhiều lần làm con giận lắm, ông à. Con mua táo về, táo Mỹ nghen, mắc tiền lắm, Nhà Quê cắn xong một miếng, nhấm nhẳn, ăn thua… mộng dừa, con ức không chịu nổi vì đã bị phụ lòng còn bị dũa một trận te tua, tội phí tiền mua mấy thứ không ngon lành gì. Con bị sốc đâu cũng năm ba lần như vậy, tặng măng cụt Nhà Quê nói ăn cũng không hơn… mãng cầu gai, còn sầu riêng thì bị quăng ngay ra cửa, vì cái mùi… thúi chịu hổng nổi.

Con thấy tổn thương ghê gớm. Nhà Quê mà ông và con yêu mến cũng có điều đáng phàn nàn, không chịu tiếp nhận cái mới gì cả, đôi lúc còn cực đoan nữa. Nhà Quê ít chịu mở ti vi coi thời sự, đã qua thời dùng bình acqui nhưng Nhà Quê đợi tới cải lương (hay phim) mới chịu bật ti vi. Nên hiểu biết của Nhà Quê không vượt ra khỏi cái xóm đó, con kinh đó, bờ chuối bờ dừa đó. Sách báo thì chỉ được mấy lão nông đảng viên về hưu để mắt tới, tầm 30 – 40 rảnh thì nhậu thôi, cầm tờ báo lên than buồn ngủ quá trời. Những kiến thức, những thông tin của thế giới bao la này nhiều khi bị cắt xén ra từng mẫu bằng… bàn tay, lúc ngồi soi bóng nước trong cầu cá tra, buồn tình mới săm soi vài chữ.

Vậy nên những chuyện đồng cốt thầy bà thì miễn bàn, Nhà Quê mê vô kể. Ai đó cắt lưỡi lấy máu để gỡ bùa, ai đó chữa bệnh ung thư bằng nước lạnh, ai đó lấy ếm trên nóc nhà tóe lửa, ai đó được bà cậu (tại sao bà mà là cậu được ta ?!) nhập vào, bứt cọng tóc của thân chủ mà biết được quá khứ vị lai, sáng mai đi hướng nào mới tốt; ai đó một bữa đi nhậu về té sông, lội lên không biết bị người cõi nào nhập mà ho một cái, kẻ thù lăn ra chết. Sợ thiệt. Nhà Quê chịu khó chèo lắm, mỗi khi nghe đồn đãi có đồng cốt nào đó mới lập bàn thờ, tưng bừng như đi hội. Lúc đi tìm giống lúa mới, hay tham quan các mô hình canh tác cũng không hào hứng, đông đủ vậy.

Con có ghét gì Nhà Quê đâu, con thương còn không hết. Vì thương nên con mới bực mình. Hồi đó có câu “dân như mắt khóm”. Trái khóm, ông cũng biết, quá chừng mắt. Nhưng bây giờ những con mắt đó đã nhắm lại rồi, không hiểu tại sao. Nhà Quê hay bị nhằn kiểu vầy, mấy ông nhà nước làm sao chứ để số đề hoành hành quá, mấy ông nhà nước tính làm sao chứ nò đó trên sông nhiều quá, có bữa không biết đường chạy xuồng. Vụ số đề, rốt cuộc ai chơi ? Nhà Quê chơi. Ai làm thầu ? Nhà Quê luôn. Biết tỏng tòng tong đường dây mua bán, biết luôn kẻ mua người bán, nhưng Nhà Quê vẫn thấy việc dẹp bỏ nó không phải của mình. Và những cái nò đó chằng chịt trên sông cũng vậy, và những trò đồng cốt lường gạt cũng vậy… chúng được tồn tại, nuôi nấng, chiều chuộng ngay trong lòng Nhà Quê.

Con biết cái thư này làm ông buồn, ông nghi hoặc, Nhà Quê làm gì đến nỗi, dù gì, cũng còn phần hồn vía giản dị, trong trẻo. Dạ còn, hào sảng còn, chơi hết mình còn, hồn hậu còn, nhưng cũng giống như bức tường xâu lâu ngày, vôi vữa bắt đầu rơi ra từng mảng nhỏ, Nhà Quê bây giờ đi đám giỗ cũng bằng tiền, cũng ghi sổ để tới đám giỗ nhà khác coi người ta đi bao nhiêu mình đi lại bấy nhiêu. Trai gái không biết làm gì nên lấy nhau sớm, có đứa mười sáu tuổi đã bồng con nèo nẹo. Có xóm, vợ nhậu vô rượt đánh… chồng te tua. Sổ đỏ nằm ở ngân hàng, nhưng có thừa ra chút tiền, đi sắm dàn Karaoke về ca cho đã, chứ đằng xóm người ta sắm hết rồi, mình không có, cũng kỳ.

Bữa nay con méc mấy chuyện này với ông, Nhà Quê hay được, lại giận, nói chân con còn dính phèn mà đã day qua nói xấu quê hương xứ sở mình. Con lại được đội thêm cái nón nữa, dù con không muốn, con đủ đen rồi, muốn làm hảo hán đầu đội trời chân đạp đất.

Thôi, con dừng bút, chừng nào nhớ ra cái gì, con lại viết thư cho ông. Biết đâu chừng, thư sau, con sẽ kể một chuyện dễ thương của Nhà Quê để chứng minh là con yêu Nhà Quê, như ông.

NGUYỄN NGỌC TƯ

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2007

Entry for November 02, 2007

Sống chung với "đỉnh"

Đời sống đô thị bây giờ nhiều thứ đã đạt "đỉnh". Đỉnh lạm phát, đỉnh sập nhà, thủng cầu, đỉnh kẹt xe,đỉnh triều cường, đỉnh tăng giá...Chúng ta tự dưng thấy mình đứng chênh vênh, chót vót.

Phải tập sống chung thôi!

Người bạn miền Tây thông tin "mùa nước nổi", lũ miền Tây năm nay...kém vui - nước lũ không nhiều, cá không nhiều. Tụi này quen "mênh mông Đồng Tháp", hổm rày chưa nhằm nhò, ngó...chán!. Tôi thông báo "thành phố mấy hổm rày thấy...ngán! Đỉnh triều cường cao nhất trong 48 năm qua, dân thành phố vùng ven, quận này quận nọ thành...chồm hổm hết ráo, không có cá chỉ có...rác trôi đầy ngõ, đầy nhà...Lũ miền Tây "sang chỗ" cho thành phố rùi!".

Buổi tối ngồi ở Tân Cảng, nhà hàng khu giải trí vẫn đẹp với thảm cỏ xanh mướt ngày thường. Đêm nay mặt sông Sài Gòn duềnh ngang tầm nhìn và khu ăn uống nước mênh mông nhấn chìm cả bãi cỏ xanh. Nhân viên nhà hàng quần xắn gối, lội nước bưng bê phục vụ khách. Có người than: "Chưa năm nào nước lớn cỡ này!Bán buôn khổ quá!". Tôi bảo: "Cứ chơi chung với nó là thấy bớt khổ - ngày nào trong tháng triều cường thì ngày ấy ta mở "ẩm thực mùa nước nổi", khách ngồi chồm hổm trên ghế giữa mênh mông nước, phục vụ lội, hay bơi xuồng ắt sẽ thú vị. Cái gì lạ mà không khoái, "ý tưởng" kinh doanh với triều cường đó, làm đi các chú!".

Đấy chỉ là nói vui.

Trở lại những "đỉnh" dễ làm thần kinh nổi điên. Nắng chang chang, khói xăng mù mịt, mồ hôi tầm tã trong đám kẹt xe. Mưa xối xả, nước ngập quá gối, xe chết máy vẫn...không nhúc nhích được trong đám xe kẹt, bó tay! Ngửa mặt vuốt nước mưa mà kêu trời!

Vậy chỉ còn cách tập thiền, hành thiền giữa đám kẹt xe đi thôi. Tâm bất động, người bất động, xe bất động - chấp hết! Thế lại sống khỏe sống vui. Nổi điên, nổi cáu chỉ có nước tổn thọ.

Giữa những "đỉnh" của "đỉnh" bỗng thấy thương cái chú văn thư của những cơ quan: đưa công văn, đưa báo biếu, đưa thiệp mời...mỗi ngày phải tìm cách thoát ra như kiến bò cành đa cụt. Mặt mũi đỏ gay vì nắng hay tái nhợt vì mưa, tèm lem vì khói bụi. Có chú vẫn cười toe. Hỏi: "Thiền à?". "Không! Thiền thiếc gì em, bác ơi! Công việc không làm tốt, cuối năm mất khen thưởng - thế thôi!...".

Cứ sống với "đỉnh" - sợ gì nào!

ĐỖ TRUNG QUÂN

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2007

Entry for October 29, 2007

Điểm gãy

Tôi dừng chân ở một cuộc trình diễn nghệ thuật sắp đặt lớn mang tên "chia cắt".

Người ta dựng mảng rào ở cuối một nhịp cầu nhỏ, trên đó, họ buộc oằn những mảnh vải bạc màu. Chữ trên hàng triệu mảnh vải cũng phai những lời khấn nguyện hòa bình, sum họp, những dòng nhớ thương khắc khoải. Một cây cầu khác rơi mất nhịp ở hai đầu đứng chơ vơ trên cánh đồng hoang vắng trải rộng đến một con sông, bên kia sông là một dãi núi xa mờ.

Một tháp chuông với những cái diềm mái trang trí theo kiểu cổ, vài đại tự bản xứ mang nghĩa "Hòa Bình". Một đầu tàu kéo theo mấy toa hiu hắt hướng về Bắc. Đài quan sát hướng dãi ống nhòm về Bắc. Những ánh nhìn vọng về Bắc... Trong vòm cây, bài hát thương nhớ Bắc réo rắt nao lòng. Và như một chi tiết tinh tế trong cuộc trình diễn đó, vài em bé thót người, nhón chân, đu trên cái ống nhòm. Tôi đứng giữ máy ảnh giữa mưa rơi lắc rắc để ghi khoảnh khắc em nhìn về phía núi. Bỗng thấy cuộc trình diễn này biến tôi thành một chi tiết mất rồi. Thấy mình là một cây kim trong cái la bàn, cũng ngẩn ngơ đau đáu run rẩy về phía Bắc.

Dưới đồi, hồ nước nhân tạo mô hình bản đồ đất nước Triều Tiên (trọn vẹn) bị mùa thu trải sương mưa lên mù mù, ủ ê, lạnh buốt. Có thể mưa cũng là chi tiết trong cuộc sắp đặt. Như tôi, những em bé kia, như hàng ngàn người có mặt ở đây trong ngày thu buồn bã này. Cảm giác mưa cũng gãy, cũng bị chặn lại ở bên kia núi, bên kia biên giới.

Người ta làm mọi thứ trông thật tinh tế, đến từng chi tiết nhỏ. Cả hàng rào kẽm gai, cả người lính canh đang khép cổng cũng làm cơn đau nào đó cuộn lên trong tôi. Sắc nhọn. Của một cánh đồng không gieo trồng, một dòng sông không trẻ chăn trâu trầm nghịch, một cây cầu dang dở, một đoàn tàu đã hơn năm mươi năm không lăn bánh, tháp chuông cũng từng ấy năm chưa được ngân lên hai tiếng hòa bình. Ở đây dường như không có gì sống đúng bản chất của nó, kể cả những con người-chi tiết đang có mặt nơi này, cũng kìm nén, ấm ức, ngột ngạt. Cũng buốt nhứt cái nỗi niềm nhớ thương những người thân mà không được gặp. Cũng thấy cái biên giới này là vết thù vô lý, nhưng không ai biết cách, không ai dám vượt qua, và chấp nhận sống cùng nó, đau đớn cùng nó.

Cuộc trình diễn bắt đầu từ năm 1953, nửa thế kỷ sau, khi tôi đến, bối cảnh có nhiều thay đổi. Một khu vui chơi giải trí được dựng lên. Dãy hàng quán bán thức ăn và đồ lưu niệm. Người bạn tôi ái ngại, xây công viên làm chi vậy trời, chổ này đâu phải chổ chơi. Ai lại vui chơi trên chính vết thương hở miệng của dân tộc mình ?!

Nhưng người ta vẫn sắp đặt ở đây những nụ cười, những tiếng reo vui. Nhiều đôi trai gái thầm thì yêu thương trên ghế đá cạnh lối đi. Đám trẻ con chạy giỡn bên đài phun nước. Vài gia đình bày thức ăn trên bãi cỏ quây quần dùng bữa chiều. Và những chi tiết sắp đặt này vẫn sắc nhọn, gây đau như mãng rào cầu nguyện, hay dòng sông, cánh đồng...

Vẫn nằm trong một kịch bản xót xa về những lát cắt, giữa quá khứ và hiện tại, giữa nhớ và quên, giữa chiến tranh và (ảo tưởng) hòa bình. Đâu đó, người ta bắt gặp cảnh đứa cháu gái đang lim dim mắt ngún nguẩy theo điệu nhạc từ cái ipod đeo trên cổ, trong khi người bà lụm cụm đang níu mãi cái ống nhòm nhìn về phía núi. Bên kia dãy núi đó, có những người thân thuộc, ruột rà của bà, có một phần đất nước. Cô gái trẻ không quan tâm điều đó, cô hoàn toàn không có ký ức với những gì thuộc phần đất xa xôi kia. Tôi cũng không, nhưng vì tôi liên tưởng đất nước từng bị chia cắt của mình nên mới thẩn thờ.

Giữa cơn mưa chiều, tôi buộc mảnh ý nghĩ của mình lên mảng vách oằn những lời thương nhau, với nguyện ước, cầu mong những dòng nhựa ứa đau dai dẳng cho cuộc chia cắt này sớm một ngày khô. Đồng loại tôi kéo chéo áo mà lau nước mắt sum vầy./.

NGUYỄN NGỌC TƯ

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2007

Entry for October 13, 2007

Người nhà quê

Họ là ai? Là những người đi vệ sinh không nhấn nút xả nước dội cầu, mang dép vào nhà mặc cho nền gạch bóng lộn. Vì “mù” luật giao thông, họ lừng khừng qua đường trước mũi xe ta (ngay cả lúc ta quyết định dừng lại nhường họ qua thì họ lấm lét rụt lại không thèm đi tiếp nữa). Họ hà tiện, thích ăn những món rẻ tiền bên đường, kém vệ sinh. Mặt mũi họ luôn đen đúa lem luốc, răng đầy bợn. Họ ăn mặc đơn điệu, luộm thuộm, có chưng diện cũng thô thiển, quê mùa, từ đôi bông tai vàng choé cho tới kiểu tóc uốn dợn. Họ viết chữ cực xấu (vì đôi khi trình độ chỉ tới lớp ba nhưng khoái nói chuyện chính trị văn hoa), họ cả tin vào chuyện thần thánh vẩn vơ, những tin đồn buồn cười, vô căn cứ...

Họ gây cho ta một sự khó chịu cả khi bày tỏ tình cảm, khi cố nài ép ta phải nhận món quà là buồng chuối chín, hay dăm ba trái dừa khô (ở chợ, ta cần chi những thứ này, khi mà món ngon vật lạ bày đầy ra trước mắt), đôi lúc họ còn dúi vào tay ta một con vịt ốm nhách, hôi hám, lấm láp phèn.

Hình ảnh họ là một vệt lấm lem trên cái nền thị thành rực rỡ, như sẵn tay ngoáy mũi rồi bôi bừa lên những bông hoa lịch lãm và sang trọng. Và mỗi khi có cảm giác khó chịu với người nhà quê, mỗi khi lườm nguýt, cười cợt họ, mỗi khi chen vào con đường lúc nhúc xe cộ, buộc miệng mắng nhiếc họ "Bộ muốn chết sao mà chàng ràng đây?", tôi đều tha thứ cho mình.

Nhưng mười một giờ trưa ngày thứ hai rồi, trên đường về nhà, người đi cạnh tôi tạt câu nói đó vào một người quê (thật dễ nhận ra với áo bà ba nâu khoác ngoài cái áo túi đã phai màu, tay xách giỏ đệm) lủi thủi đi trong khói nắng, tôi bỗng nghe nhói ran. Bỗng thấy giận cái người đã buông lời đau như ném đá.

Bỗng thấy tôi đã thay đổi, đến giật mình.

Đến ngơ ngác, không biết người nhà quê trong mắt tôi đã khác tự hồi nào, sao tôi lại ngoay ngoắt thương yêu họ đến thế kia. Họ có khác gì đâu, vẫn nghèo, lam lũ, cục mịch và bỗ bã. Những mùa mưa, tôi thấy họ ngồi khóc bên đống lúa ướt đã lên mầm trắng xóa. Tôi thấy những phụ nữ dầm mình dưới kinh, bẻ rau muống ra chợ bán, món tiền cho một thúng rau chỉ bằng tô phở sáng của tôi. Con nít đi kéo tép rong bị ong nghệ đánh sưng mắt. Tôi thấy những bữa cơm nghèo, người già, trẻ nhỏ cũng chỉ rau luộc chấm nước chao, hay mấy con cá lòng tong kho tiêu, mặn và khô quắt. Tôi thấy những vách nhà gió xé tơi tả, trống lỗ trống hang mà họ không tiền sửa, bộ vạc nằm ngủ cũng chỉ cây ván vụn ghép tạm. Những mùa nắng, tôi thấy họ gánh nước tưới rau hay đào đất sên vuông giữa trưa nóng rẫy. Cả đống lúa nhễ nhại mồ hôi, thành quả lao động ngót ba bốn tháng ròng chỉ đáng giá một tiệc nhậu của người thành thị. Nên họ đi qua mùa nông nhàn, mùa giáp hạt bằng cách bắt chuột đồng, hay đào củ năn để bán.

Những món quà họ dành cho tôi cũng chẳng sang trọng lên chút nào. Vẫn chuối, dừa, ổi, mãng cầu chín trong vườn nhà, họ dúi vào túi xách khi tôi xuống bến. Có ông cụ còn tặng tôi một mặt thớt mù u, tôi đem về quẳng vào một góc. Sau này, nghe tin ông mất, vì bệnh uốn ván (mà người ta hay gọi là "phong đòn gánh"), nghe rằng, ông đạp phải một cây phảng sét. Tôi lấy đinh đóng vào tường treo mặt thớt ấy lên, không biết đau ở đâu mà suýt rơi nước mắt.

Những người nhà quê, họ là ai ? Những chuyến công tác ở vùng đất xa ngái của quê nhà đã giúp tôi vẽ lại họ một chân dung khác. Họ nhọc nhằn cả đời để rồi cả đời nghèo khó, thiệt thòi.

Tôi ngả lòng về phía họ khi nhận ra điều đó ?

Hay vì một bữa, đứng ở Sài Gòn, tôi đắng đót nhận ra mình cũng là người nhà quê, mình chưa và không bao giờ từ bỏ được sự thật đó. Ngay lúc ấy, tôi bỗng nghe thèm được ai đó cầm tay dắt qua đường, mà không, một cái nhìn ấm áp thôi, cũng được...

Nguyễn Ngọc Tư